Nhận định xu hướng phát triển của thị trường chè trong thời gian tới

Theo báo cáo của FAO, trong năm 2018, trong tổng số 1,6 tỷ lít đồ uống không cồn được tiêu thụ thì chè chiếm 266 triệu lít, tương đương 35,1 lít/người, cao hơn so với đồ uống có gas là 30,6 lít và cà phê 21,1 lít.

Những năm vừa qua, thị trường chè đã và đang lớn dần theo thời gian, đặc biệt là tại Trung Quốc. Trong khi đó, nhu cầu ở những thị trường khác cũng không có dấu hiệu giảm sút, điển hình như Ấn Độ, tăng trưởng vượt trội để bù lại cho châu Âu – nơi mà chè đã bị bão hoà.

Tại quốc gia sản xuất chè đen lớn nhất thế giới – Ấn Độ, trong năm 2018, sản lượng chè giảm 0,8% so với năm trước đó, ước tính chỉ đạt 1.311,63 triệu kg, khiến cho xuất khẩu của nước sản xuất chè đen bị giảm sút khoảng 1,1%. Cùng với đó, chè Ấn Độ đang mất dần thị phần do những quy định khắt khe hơn về dư lượng thuốc trừ sâu.

Năm 2018, giá chè thế giới diễn biến thất thường ở các nước sản xuất và xuất khẩu chủ chốt. Tại Việt Nam, trong năm 2018, giá chè cành chất lượng cao tại Thái Nguyên ở mức 195.000 đồng/kg, chè xanh búp khô tại Thái Nguyên 105.000 đồng/kg, chè búp tươi loại 1 (nguyên liệu chè) tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) 9.000 đồng/kg, chè búp tươi loại làm nguyên liệu sản xuất chè đen ở Bảo Lộc là 6.000 đồng/kg. 

Theo thống kê, sản lượng chè búp trong năm 2018 của Việt Nam đạt 987,3 nghìn tấn, tăng 1,6% so với năm 2017. Xuất khẩu 127.388 tấn chè, thu vè 217,83 triệu USD, giảm 8,9% về lượng và giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước đó. Tổng giá chè xuất khẩu bình quân năm 2018 đạt 1.710,7 USD/tấn, tăng 4,9% so với năm 2017.